Đạo đức nghề báo: Lương tâm và lòng tự trọng

chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà báo - giảng viên Trần Quang, hiện đang công tác tại Khoa Báo chí, trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN - về đạo đức nghề báo:

1. Từ điểm nhìn thực tiễn.

Trong một bài giảng về đạo đức nghề nghiệp tại khoa Báo chí - Trường ĐHKHXH & NV - Đại học Quốc gia Hà Nội, dựa trên quan điểm mácxit về đạo đức học, giảng viên đã tìm cách lý giải đạo đức báo chí trong một xã hội đang đổi mới. Đạo đức được coi giống như chức năng của chiếc máy điều chỉnh hành vi của phóng viên:

Nhà báo, nhà giáo 
Trần Quang 
Ảnh: Ngọc Diệp

"Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi của con người đối với nhau và đối với xã hội. Các nguyên tắc đạo đức giống như những chiếc máy điều chỉnh hành vi của con người, nhưng không mang tính chất cưỡng chế mà mang tính tự giác (...) Trên cơ sở lí tưởng và trách nhiệm đạo đức đã hình thành nên quan niệm về lương tâm và lòng tự trọng của nhà báo chuyên nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp bao gồm các nguyên tắc xử sự đúng đắn để ngăn ngừa những hành vi không đúng đắn. Căn cứ vào những tiêu chuẩn đạo đức này và dựa vào tính chất của những hành vi, mỗi nhà báo sẽ phải chịu đựng sự tự xỉ vả, xấu hổ, phải tự kết tội, hoặc được khích lệ, tự hào, phấn khởi và hạnh phúc".(1)

Như vậy có nghĩa là, suy cho cùng quan niệm về đạo đức nghề báo cũng vẫn dựa trên đạo đức xã hội nói chung để phân biệt tốt - xấu, thiện - ác. Lạm dụng báo chí vì lợi riêng là việc làm xấu, ác. Công cuộc đổi mới đất nước của chúng ta cần chống lại sự lạm dụng báo chí, một khía cạnh quan trọng của đạo đức nghề nghiệp, để gìn giữ năng lực giải quyết vấn đề của hệ thống truyền thông trong một nền dân chủ, ngược lại với kết quả không mong muốn và một số lỗi lầm thực tế của báo chí hiện nay.

Song, trong hệ thống truyền thông công khai, báo chí đã được điều chỉnh và điều khiển bằng nhiều cách khác nhau. Những điều kiện mà cơ cấu truyền thông tạo ra rất khó hòa hợp với phạm trù đạo đức. Ví dụ như báo chí hoạt động trong nền kinh tế thị trường tất nhiên phải chấp nhận sự cạnh tranh và không thể không tính đến lợi nhuận. Điều đó dễ dẫn đến sự lạm dụng báo chí nhằm tăng lợi nhuận cho đơn vị mình mà các phóng viên có thể "câu khách" bằng những thông tin phi nhân bản. Đối với công luận thì khi có sự giận giữ đối với nó, người ta mới tìm kiếm chuẩn mực để đánh giá thái độ cư xử của báo chí. Sau đó mới có phê bình báo chí. Song báo chí cũng tự viết về mình.

Dĩ nhiên, sự lí giải trong các cuộc thảo luận về đạo đức truyền thông cũng khó được xếp hạng (như các quan niệm về trách nhiệm mà chúng tôi đã bàn đến trong bài "Xã hội thông tin và trách nhiệm của nhà báo"). Rõ ràng là phải giải thích xem cái gì là đối tượng của đạo đức báo chí.

Báo chí được coi như một "lực lượng đối trọng" trong xã hội

Công tác báo chí vốn dĩ vẫn gây ấn tượng mạnh cho công chúng và trở thành đối tượng của những lý lẽ trong các cuộc tranh luận về đạo đức. Những tranh luận đó có thể làm sáng tỏ những vùng xung đột của đạo đức báo chí. Sau đó lại có những bài phê phán riêng rẽ, những lưu ý đến các mâu thuẫn hoặc tin tức sai. Ví dụ: tháng 8/2000, một tờ báo đã đưa tin về một ca sĩ nổi tiếng, nghệ sĩ nhân dân bị chồng bắn vì ghen tuông, rồi sau đó lại cải chính. Thật khó khăn khi phải phân biệt lỗi lầm do tay nghề kém, đạo đức tồi hay có "vùng tối" trong tư tưởng.

Mặt khác, còn có một sự tranh luận chung chung có tính phê phán đối với các cơ quan báo chí viết về những vấn đề đạo đức trong mối liên quan tới những biểu hiện thương mại hóa của một số tờ báo, với cơ cấu của các hãng truyền thông lớn, với việc đòi hỏi quá nhiều thẩm quyền dành cho báo chí. Trong đó có đề cập đến các số liệu về việc sử dụng phương tiện thông tin và việc đánh giá về công tác thông tin. Có thể nêu lên những tác động chủ yếu có ảnh hưởng tới đạo đức nghề báo như sau:

· Trào lưu hội nhập và toàn cầu hoá dẫn đến áp lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn giữa các cơ quan truyền thông, không chỉ với nước ngoài mà ngay cả trong nước. Các phương tiện truyền thông cổ điển đánh mất đi vị thế độc quyền trong xã hội. Người phóng viên không còn là "người gác cổng" nữa, sản phẩm của họ trở thành một phần nhỏ trong khối tư liệu đồ sộ được thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau. Phương tiện truyền thông trong nền kinh tế thị trường nói chung xuất hiện nhiều loại tư liệu mang tính chất tiếp thị, quảng cáo,... điều đó làm cho độ tin cậy đối với báo chí không có khả năng tăng lên.

Nhà báo luôn được quan sát ở hai bên "giới tuyến"

· Quá trình phát triển của hệ thống báo chí luôn luôn dẫn đến việc xuất hiện những phương tiện thông tin hiện đại hơn. Vì vậy mà kĩ xảo nghề nghiệp cũng có thể được phát huy tối đa. Hành vi đạo đức bị “sấy khô” bởi các hoạt động theo định chế.

· Đối với những chủ đề của xã hội hiện đại làm cho báo chí có thẩm quyền cao hơn, đồng thời báo chí ngày càng chịu nhiều sức ép của những người chi tiền quảng cáo. Mặt khác, quan trọng hơn là việc báo chí có thể đưa ra những nội dung có chọn lọc, có sắp xếp, xử lý khác hẳn với thông tin "thô" ban đầu.

· Tầm quan trọng và độ tin cậy của thông tin không còn được đảm bảo chắc chắn như trước. Một bộ phận công chúng có thể quay lưng lại với phương tiện truyền thông vì họ không còn tin cậy nữa. Đáng kể nhất là những lời phê phán tác động của phương tiện truyền thông bởi những bài báo vô trách nhiệm của một vài phóng viên.

Và được giành riêng một "góc" tốt nhất

· Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, khuynh hướng thương mại hóa của một số cơ quan báo chí vẫn diễn ra thật phức tạp. Với sự trợ giúp của kỹ thuật điện tử, phương tiện truyền thông trở nên gần như không bị giới hạn.

Trong các cuộc thảo luận về vấn đề đạo đức báo chí hiện nay đang có nhiều cách lý giải, biện minh. So với nhiều năm trước thì trong mấy năm gần đây, tình trạng vi phạm đạo đức báo chí đang tăng lên. Biểu hiện của sự vi phạm này không chỉ là những tác phẩm được công bố mà ngay cả sự im lặng không bình thường cũng được công chúng nhận thấy. Chẳng hạn như có những cơ quan báo chí hoàn toàn "làm ngơ" trước một sự kiện động trời nào đó như sự cố ở mỏ than Quảng Ninh hay vụ án Năm Cam...Trong những tình huống như vậy, công luận lại bắt đầu chú ý đến vấn đề đạo đức và thẩm quyền của báo chí. Những cuộc thảo luận về đạo đức truyền thông lại trở nên sôi nổi, mặc dù đề tài này chưa bao giờ thực sự biến mất khỏi bức tranh hàng ngày, khỏi giáo trình đào tạo phóng viên, khỏi tài liệu chuyên môn.

Cường độ của cuộc thảo luận tăng lên không theo một chu kỳ nhất định. Cứ khi nào có sự cố đặc biệt của báo chí có liên quan đến vấn đề đạo đức thì cường độ của cuộc thảo luận lại tăng theo. Vào đầu những năm 90 của thế kỷ 20, sau cái chết tự sát của ông Giám đốc nhà máy bia rượu Hà Nội, đã nổi lên những tranh luận đối với vấn đề đạo đức báo chí. Cùng với rất nhiều vấn đề đạo đức báo chí phát sinh trong cơ chế thị trường, mặt khác để hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức của thời kì đổi mới, Hội nhà báo Việt Nam đã thông qua Quy ước đạo đức báo chí (1994). Các nhà báo đã có một văn bản pháp quy làm nền tảng cơ sở lí luận cho đạo đức nghề nghiệp của họ. Họ đã tìm thấy sự ổn định về đạo đức. Mặc dù vậy, trong hoạt động thực tiễn của nghề báo, những vi phạm về tiêu chuẩn đạo đức vẫn không giảm. Năm 2000, sau vụ "cháu bé gái 8 tháng tuổi", dư luận lại dấy lên về chủ đề đạo đức nhà báo. Có người đã viết lên báo rằng, nhà báo đưa tin đó lên báo còn đáng ghét hơn thằng đàn ông đã làm hại cháu. Phải chăng sự khiếm khuyết đạo đức hiện nay có nguyên nhân chủ yếu ở chỗ thiếu sự đền bù xứng đáng cho hành vi có đạo đức?

Ngoài những vấn đề chính phải quan tâm thì...

... còn những vấn đề cũng không được bỏ qua

Trong những bài viết có tính chất phê phán hành vi đạo đức báo chí, thường được đăng rải rác trên các tạp chí chuyên ngành, trên các báo, mặc dù không tạo nên sự rầm rộ của công luận như những thông tin thời sự có tính độc đáo và nhạy cảm khác, nhưng cứ như một dòng chảy lúc âm ỉ, lúc trào dâng. Có thể tổng hợp thành những điểm cơ bản như sau:

· Thông tin sai sự thật (do phóng viên bịa ra)

· Thông tin méo mó (sai một phần)

· Không quan tâm đến hậu quả của thông tin.

· ứng xử nhẫn tâm.

· Đưa tin không khách quan vì mục đích vụ lợi hay vì năng lực chuyên môn kém.

· Khuynh hướng thương mại hoá báo chí.

Những ý kiến vừa nêu trên đây mặc dù còn chưa được tổng hợp đầy đủ và trình bày thường rải rác, lồng ghép trong những bài viết có chứa đựng nhiều nội dung khác nữa. Tuy vậy, chúng vẫn có ý nghĩa thời sự đặc biệt đối với đạo đức báo chí. Cái bị phê phán mạnh mẽ là trách nhiệm xã hội được coi như là sự lý giải cho một thực tiễn công tác truyền thông đang có nhiều vấn đề. Tinh thần nổi bật của những ý kiến này là sự bất tín nhiệm đối với cơ quan truyền thông, sự nghi ngờ về đạo đức của các phóng viên và sự bất bình đối với quyền lực của cơ quan truyền thông ngày càng dâng cao. Cho nên các phóng viên và những người đứng đầu của cơ quan truyền thông cần suy nghĩ lại về các nguyên tắc đạo đức trong hoạt động nghề nghiệp.

Vấn đề đạo đức truyền thông đã trở thành một mảng của chương trình đào tạo và vẫn thường xuyên được đề cập trên các báo và tạp chí, đặc biệt là tạp chí chuyên ngành, mặc dù kết quả mang lại không được là bao. Một khía cạnh thường được chú ý là việc định hướng khắt khe tới quyền được thông tin của công chúng. Trung tâm của vấn đề là trách nhiệm xã hội của cơ quan báo chí. Các cán bộ giảng dạy báo chí nêu câu hỏi trong một cuộc hội thảo năm 1994: “Trách nhiệm báo chí: cái gì xã hội cần ở chúng ta? Một số diễn giả nêu quan điểm: Vì đặc quyền xã hội và đặc quyền pháp lý, vì sức mạnh mà các phóng viên nắm giữ, họ phải chịu trách nhiệm về những thông tin mà công chúng cần, theo một cách thức thông minh và có cân nhắc.

Như thế có nghĩa là, người phóng viên phải chịu trách nhiệm cả về những thông tin mà họ quyết định không công bố. Như chúng ta đã biết, trách nhiệm là một khái niệm lấp lánh, trong hệ thống hoạt động báo chí nó đồng thời mang hai nghĩa: trách nhiệm của phóng viên đối với cơ quan báo chí và trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với xã hội.

Khi nói đến trách nhiệm thì rõ ràng rằng, trước sau gì phóng viên cũng phải “đo” trách nhiệm của họ bằng thước đo chung của thực tiễn nghề nghiệp. Trách nhiệm là một vấn đề do học tập và do năng lực mà có. Nó là việc báo tin, đánh thức người phóng viên dậy rồi cử anh ta đi dưới sự hướng dẫn của những biên tập viên từng trải - sau đó sản phẩm truyền thông sẽ được làm sáng tỏ hơn.

Trong nhiều văn bản khác nhau, các biên tập viên cũng chứng minh tương tự, khi họ thu gọn vấn đề đạo đức báo chí vào trong phạm vi kỹ thuật nghề nghiệp giống như phương pháp săn tin nhất định hay là vấn đề pháp luật và vấn đề thị trường. Đối với họ, vấn đề đạo đức trong ngày thường khá cụ thể. Cho nên họ không phải suy nghĩ nhiều lắm về trách nhiệm xã hội chung- hoặc là họ không nhìn nhận chúng như là một vấn đề đặc biệt thuộc nghề nghiệp, vì họ quan niệm rằng, đạo đức lao động là chuẩn mực chung cho mọi người, không riêng gì nhà báo, mặc dù nhà báo gặp nhiều tình huống phải ứng xử dựa trên nguyên tắc đạo đức nhiều hơn những nghề khác.

Cả hai nhóm - các nhà khoa học và các nhà báo thực hành đều thống nhất với quan điểm cho rằng nghề báo có nhiều nhu cầu đạo đức hơn. Nhu cầu đạo đức có tính thời sự này có thể nghiên cứu được vì lý do và hệ quả của nó đối với bốn yếu tố ràng buộc hành vi báo chí như sau:

§ Qui chế báo chí (Danh mục đạo đức học và sự trùng hợp với các qui định pháp luật. Ví dụ như việc bảo vệ người cung cấp thông tin đồng thời được ghi trong luật báo chí và qui ước đạo đức báo chí).

§ Cơ cấu báo chí (Điều kiện chế định dành cho sự tự ràng buộc cá nhân của hành vi báo chí).

§ Chức năng báo chí (Sự thống nhất của nguyên tắc đạo đức học với ý định đưa tin của phóng viên và mong muốn được thông tin của công chúng).

§ Vai trò báo chí (Tính nhạy cảm của phóng viên đối với hoàn cảnh dẫn tới quyết định mang tính đạo đức).

Trong vấn đề tự chịu trách nhiệm nghề nghiệp của phóng viên, trước hết mỗi nhà báo cần xác định xem trong một tình huống cụ thể, cần ứng xử như thế nào để phù hợp với quy tắc đạo đức. Sau đó mới có thể nói đến việc người phóng viên được làm gì và muốn làm gì, nghĩa là họ có được sự nhạy cảm đạo đức học thế nào. Trên mặt bằng chức năng, người phóng viên cần phải, được phép và mong muốn mang lại điều mà xã hội và công chúng mong đợi.

2. Một số khía cạnh về đạo đức học.

Hàng chục năm qua, mặc dù vấn đề đạo đức học báo chí đã được bàn bạc khá nhiều và cũng không ít văn bản của các cơ quan quản lí nhà nước về báo chí được ban hành. Quy ước đạo đức báo chí Việt Nam trở thành văn bản pháp quy. Tuy nhiên, những văn bản đó hầu như chưa phát huy được vai trò của chúng trong hoạt động thực tiễn. Khoa học truyền thông và khoa học báo chí cũng không quan tâm mấy đến chủ đề này. ở các cơ sở đào tạo người làm báo có nơi đưa vào giáo trình giảng dạy, có nơi chỉ coi như một phần của chương trình ngoại khoá. Họ hầu như không chú ý đến vấn đề “quan điểm” và “trách nhiệm” như là một phạm trù nhằm đạt được mục đích của hành vi báo chí. Đó là chưa nói đến tình trạng đội ngũ nhà báo hiện nay đang hoạt động ở các cơ quan truyền thông đại chúng có đến 55% không qua đào tạo chuyên ngành, 12, 5% chưa học qua đại học (số liệu từ Bộ Văn hoá - thông tin). Không học chuyên môn, chưa có đủ thời gian công tác để đúc rút kinh nghiệm, chỉ viết báo bằng năng khiếu trời cho, thật khó mà trách móc các nhà báo trẻ khi họ không phân biệt được những hành vi nhỏ nhoi nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Cho nên vấn đề đạo đức học đối với nhà báo cần phải được chấp nhận một cách khoa học và có niềm tin. Trong thời kì chuyển đổi cơ chế như hiện nay, hệ thống giá trị đang thay đổi thì đạo đức học rất khó tìm thấy sự đồng thuận ở tất cả mọi nhà báo và nhà nghiên cứu, kể cả các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực triết học. ở đó, sự hoài nghi đối với đạo đức học được phản ánh thông qua tính đa dạng trong quan niệm về giá trị đang tăng lên trong xã hội.

Từ quan niệm đơn giản như thế nào là tốt, thế nào là xấu trong cái sự giàu có và sự nghèo khó cũng đang thay đổi khá rõ. Trong những năm bao cấp, chúng ta vẫn quan niệm rằng, người nghèo bao giờ cũng là người tốt, còn người giàu thì phải có giới hạn của sự giàu, vượt qua cái ngưỡng nào đó sẽ bị coi là xấu. Bây giờ thì ngược lại, đừng trộm cắp, tham nhũng, phạm pháp thì càng giàu càng được mọi người kính trọng. Còn nghèo phải có giới hạn, nếu không có lí do chính đáng như tàn tật, hoạn nạn, đau yếu... mà nghèo "rớt mùng tơi" thì sẽ bị xem thường, thậm chí là khinh bỉ. Và dĩ nhiên là nhiều khái niệm giá trị khác cũng đang thay đổi theo hướng đại loại như vậy. Đó là chưa nói đến nhiều sức ép khác của cơ chế quản lí báo chí. Biết ai đó đã làm sai (vi phạm pháp luật chẳng hạn) nhà báo nhận thức được rằng không tố cáo tội ác là trái với trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp, nhưng nói ra thì cũng không xong, vì người vi phạm đó là một thành viên trong hệ thống quyền lực có khả năng chi phối báo chí. Cho nên ở nước ta có tình trạng là khi cán bộ ở địa phương phạm pháp thì may ra báo trung ương hoặc báo địa phương bạn tố cáo, còn báo địa phương đó hoàn toàn "không biết gì". Dĩ nhiên, có những vấn đề nhân bản, là "mẫu số chung" của đạo đức con người mang tính nhân loại như tình thương, sự trung thực, yêu lao động, yêu tổ quốc, tôn trọng lẽ phải... thì mỗi nhà báo, dù được đào tạo ở bất cứ nơi nào đều có thể ý thức được. Mặc dù vậy, trước thực tế cuộc sống vô cùng đa dạng và phong phú, phức tạp và nhiều bí ẩn, không phải ai cũng dễ dàng phân biệt được đúng, sai, nên làm hay nên tránh.

Cho nên, cuộc thảo luận về đạo đức học báo chí hiện nay tuy dễ thống nhất về lí luận nhưng rất khó ứng dụng vào thực tiễn. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi trình độ lý luận và các bằng chứng đưa ra trong các cuộc thảo luận không đầy đủ. Đặc biệt đáng chú ý là sự phê phán việc pha trộn của đạo đức với luật pháp và sự phân hóa hệ thống báo chí trong quá trình đi tìm thuớc đo chuẩn mực cho hành vi báo chí (gần như có sự khác nhau trong quan niệm đạo đức nghề nghiệp giữa báo trung ương và báo địa phương). Hoạt động thực tiễn báo chí thường vẫn gặp phải những xung đột giữa ý tưởng đạo đức và định chế. Đặc biệt là trong thời đại công nghệ cao và báo chí trực tuyến thì sự lúng túng về mặt lí luận càng tăng lên không chỉ ở nước ta mà nhiều nơi khác cũng có tình hình tương tự. Thay cho việc tìm ra chuẩn mực phù hợp có thể có tầm quan trọng to lớn trong hệ thống báo chí hiện đại, các nhà lí luận lại lo "nhấm nháp" những thứ được chuyển hóa từ những nguyên lý triết học lớn lao. Lý luận triết học chọn lọc từ hai nghìn năm trăm năm nay phải biện minh cho đạo đức nghề báo và đạo đức lao động ở các nước này vào cuối thế kỷ thứ hai mươi và đầu thế kỉ hai mốt.

Từ thế kỷ thứ V trước công nguyên đã có những cố gắng nhằm hệ thống hóa tiêu chuẩn đạo đức. Thời Arixtốt (Aristoteles), lý thuyết suy tưởng đạo đức được gọi là "luân lý". Sự việc xoay quanh việc xem đạo đức như là một sự phân biệt giữa tốt và xấu hay gữa thiện và ác, rồi phát triển thành chuẩn mực. Hiện nay khi chúng ta thông qua hành vi của mình, xuất hiện sự xung đột lại bắt đầu đi tìm lại những chuẩn mực đó.

Arixtốt, lý thuyết gia đạo đức đầu tiên đưa ra tính bình thường, sự cân bằng giữa nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội như là một thước đo chuẩn mực. Sự thỏa hiệp này làm nền tảng cho những hành vi hợp lý. Đương nhiên sự thỏa hiệp do ông phát triển trong đạo đức học có tầm quan hệ lớn, đó là mối liên quan hệ thống.

Việc thực hiện thỏa hiệp này trong xã hội hiện đại sẽ trở nên rõ ràng hơn thông qua sự phân cực (tốt-xấu, thiện-ác) của các nguyên tắc đạo đức mà cuộc thảo luận về đạo đức báo chí ở nước ta đang hướng tới. Những ý kiến về quan niệm đạo đức nghề nghiệp trong thực hành báo chí được trình bày rải rác trên các báo, tạp chí, hội thảo và cả trong các giáo trình có thể phân thành đạo đức trách nhiệm (hay nghĩa vụ) và đạo đức mục đích, nhưng không phải nói về sự mâu thuẫn trái ngược nhau mà là sự giải thích khác nhau. Có thể trình bày tóm lược như sau:

· Đạo đức mục đích là hành động theo những qui tắc mà chúng ta mong muốn và coi như luật lệ chung, không cần để ý đến hoàn cảnh và không có ngoại lệ. Ví dụ như trong báo chí, bất cứ tin tức nào thiếu chính xác đều không được chấp nhận. Các quyết định được đưa ra bởi những lý do hợp lý nằm ngay trong sự việc. Bản chất của hành vi quyết định xem hành vi đó sai hay đúng chứ không lệ thuộc vào hậu quả của hành vi. Qui tắc này không phụ thuộc vào chủ đề của tác phẩm mà nó có hiệu lực mọi lúc, mọi nơi.

· Đạo đức trách nhiệm đề cao quan điểm hoạt động vì lợi ích của đại bộ phận công chúng (bao gồm lợi ích của Đảng, Nhà nước, quốc gia và toàn thể nhân dân). Một hành vi là tốt hay xấu phải được xem xét dưới góc độ hậu quả liên quan đến số đông (xã hội). Quyết định được đưa ra nhằm hướng tới mục đích, hậu quả của hành vi sẽ quyết định xem hành vi đó đúng hay sai. Quan niệm này là sự kết hợp giữa hành vi tốt và hành vi có ích.

Tư tưởng vì quyền lợi của đa số (toàn xã hội) chắc chắn sẽ được đại đa số phóng viên báo chí nước ta chấp nhận và ngưỡng mộ. Nó giữ vai trò là định hướng cho mô hình trách nhiệm xã hội của cơ quan truyền thông. Tất nhiên là không phải mọi người đều đồng tình với quan niệm này. Có ý kiến cho rằng, nếu như quan niệm vì lợi ích của đa số tự coi mình là đạo đức trách nhiệm thì chưa hẳn đã chính xác. Mỗi một hành vi báo chí chỉ được xác định khi nó gây ra tác động, trong khi đó lại không thể lường trước được tất cả các tác động. Chẳng hạn như tin tức về vụ trẻ em ngộ độc khi ăn vải thiều ở Lục Ngạn - Hà Bắc. Rõ ràng là tác giả của bản tin đó, trong khi bị sức ép của tính thời sự, khó lòng mà biết trước hậu quả của tin tức v.v.. Nhưng dù sao thì phép tính lợi ích vẫn đang được thừa nhận và là yếu tố định hướng cho cuộc thảo luận về đạo đức nghề báo. Lý thuyết vì lợi ích đa số này như là một thứ thước đo dành cho hành vi báo chí hàng ngày nhằm chống lại động cơ cá nhân bị khai thác triệt để và chủ nghĩa khoái lạc cá nhân. Đối với sự phân biệt giữa tự do và lạm dụng tự do, kiểu quan niệm về đạo đức trách nhiệm đó chưa có bằng chứng là đã mang lại lợi ích thực tế. Bởi vì tự do báo chí, suy cho cùng cũng là sản phẩm của cơ chế báo chí. Mỗi đất nước, tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như chính trị, xã hội, trình độ dân trí, mức sống vật chất v. v.. để có cơ chế báo chí thích hợp. Nếu đem quan niệm tự do của các nước khác áp đặt lên kiểu tư duy của dân mình là phi khoa học. Chỉ lấy một ví dụ đơn giản: ở Thuỵ điển tình trạng dân số giảm làm cho quốc hội của họ phải đau đầu để nghĩ ra kế sách nhằm tăng dân số. Vì thế đã xuất hiện ý tưởng công bố rộng rãi và tăng cường thời lượng chiếu phim sex trên màn ảnh nhỏ, và đương nhiên là trên nhiều phương tiện truyền thông khác nữa. Đó là một quan niệm về tự do. Trong khi đó chúng ta đang vất vả lắm trong công tác tuyên truyền, thế mà hàng chục năm rồi vẫn chưa thực hiện được chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có một hoặc hai con. Nếu để cho một số nhà báo nào đó được tự do trong khoái lạc cá nhân thì công sức tuyên truyền cuả hàng trăm cơ quan truyền thông và các tổ chức xã hội khác chỉ là công cốc. Đến như nước Mỹ được mệnh danh là "thế giới tự do" vậy mà sau vụ khủng bố 11/9 nhân dân cũng đồng ý với chính quyền là hạn chế tự do của dân để tăng cường an ninh của đất nước. Cho nên tình trạng lạm dụng tự do báo chí không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức. Dĩ nhiên cũng không thể hi sinh tự do của đa số để dành quyền tự do cho thiểu số. Như vậy mỗi nhà báo sẽ có tự do khi nhận thức đầy đủ quy luật của tự nhiên và xã hội, như Ăng ghen đã nói: "tự do là tất yếu".

Vấn đề về đạo đức nghề nghiệp của báo chí hiện nay là phải tìm ra những quy tắc cho phép nhà báo hành động hợp đạo đức trong ngày thường. Các phóng viên, trong hoạt động nghiệp vụ cần áp dụng tính thực tế (thực dụng) và tính qui nạp, căn cứ vào tình hình cụ thể dẫn đến quyết định mang dấu ấn đạo đức.

Mặt khác, nên chăng những cuộc tập huấn thường niên về đạo đức nghề nghiệp cho các nhà báo, đặc biệt là nhà báo trẻ phải được cơ quan quản lí lưu ý. Căn cứ vào nội dung của "Quy ước đạo đức báo chí Việt Nam" để rút ra những bài học thực tiễn. Một trong những chức năng chủ yếu của báo chí nước ta là giáo dục. Nhà báo là nhà giáo dục bằng phương tiện thông tin. Mà "nhà giáo dục lại rất cần được giáo dục" (Mác).

[1] Dương Xuân Sơn, Đinh Hường, Trần Quang: Cơ sở lý luận báo chí - truyền thông, Nxb Văn hóa - thông tin, H., 1995, tr. 252.

Xem ngay…

Đạo đức nghề nghiệp và uy tín của người làm báo

Ngày 1-1-2017, Luật Báo chí năm 2016 chính thức có hiệu lực. Thực hiện quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 8 Luật Báo chí: “Ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo”, tháng 12-2016, Hội Nhà báo Việt Nam đã ban hành “10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam”. Đây là các chuẩn mực rất cụ thể và thiết thực nhằm xác định trách nhiệm đạo đức người làm báo trong hoạt động nghề nghiệp.

Đạo đức nghề nghiệp được khẳng định là một trong những phẩm chất có tính chất nền tảng của hoạt động báo chí, thậm chí trong rất nhiều trường hợp, đạo đức nghề nghiệp còn được nhấn mạnh hơn nghiệp vụ báo chí. Bởi người làm báo có thể học tập, rèn luyện, đúc rút kinh nghiệm về nghiệp vụ, nhưng đạo đức nghề nghiệp là yếu tố thuộc tư chất của con người, mà nổi lên là tinh thần trách nhiệm, thái độ nghiêm túc đối với công việc,… Đây là những yếu tố chỉ có thể hình thành trên cơ sở tự ý thức. Vì thế, để phát triển lành mạnh, tạo dựng uy tín trong xã hội và bạn đọc, mọi nền báo chí luôn coi trọng, đề cao đạo đức nghề nghiệp của người làm báo. Ở Việt Nam, đạo đức nghề nghiệp của người làm báo đã được luật hóa thông qua Luật Báo chí năm 2016 và gắn liền với vai trò của Hội Nhà báo Việt Nam. Cụ thể, tại điểm b, khoản 2, Điều 8 Luật Báo chí quy định: Hội Nhà báo Việt Nam “Ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo”. Quy định này không chỉ khẳng định đạo đức nghề nghiệp là yếu tố hết sức quan trọng đối với mỗi người làm báo, tạo ra hành lang pháp lý đối với người làm báo trong quá trình tác nghiệp mà còn đồng thời khẳng định yếu tố đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động báo chí của mọi hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, không phân biệt giữa người làm báo có Thẻ Nhà báo, hay người làm báo không có Thẻ Nhà báo.

Những năm gần đây, hoạt động báo chí ở Việt Nam đã cho thấy nhiều ưu điểm khi tạo được hiệu ứng tích cực, góp phần vào sự phát triển của đời sống xã hội. Qua báo chí, nhiều tấm gương tốt được biểu dương, nhiều vụ việc tiêu cực được phơi bày, nhiều vấn đề bức xúc được giải quyết… Tuy nhiên, cùng với các thành tựu, vẫn còn một số sai phạm trong hoạt động báo chí tồn tại với biểu hiện, dạng thức khác nhau, và đáng nói là theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, các vi phạm chủ yếu liên quan tới đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, thể hiện qua việc thông tin sai sự thật. Sự kiện nổi bật nhất của các sai phạm là gần đây, hàng loạt tờ báo đăng tải thông tin sai sự thật về nước mắm truyền thống. Hậu quả là dư luận xã hội hết sức hoang mang, ảnh hưởng nghiêm trọng đến người tiêu dùng và hoạt động sản xuất nước mắm truyền thống cũng như tới thương hiệu hàng hóa của Việt Nam nói chung trên thị trường quốc tế. Một sự kiện đáng tiếc khác là cuối tháng 8-2016, một số tờ báo và trang tin điện tử đồng loạt đưa tin không đúng sự thật về sự việc Ksor Sôn - một cậu bé 11 tuổi ở tỉnh Gia Lai tự tử vì “không có áo mới đến trường”. Sự việc được làm sáng tỏ sau khi cơ quan chức năng xác minh nguyên nhân cậu bé tự tử lại là do bất đồng ý kiến với gia đình, do tâm lý không ổn định của lứa tuổi chứ không từ nguyên nhân như một số báo đã nêu. 14 cơ quan báo chí đăng thông tin này đã bị xử phạt, nhưng thông tin sai sự thật được đăng tải cũng kịp gây dư luận không tốt, và đã bị kẻ xấu lợi dụng để xuyên tạc. Đó mới chỉ là một số sự việc tiêu biểu cho tình trạng đăng tải thông tin sai sự thật trên báo chí thời gian qua. Ngoài ra còn phải kể đến hiện tượng một số báo, trang tin điện tử đăng thông tin giật gân, câu khách, không đúng sự thật qua cách rút tít theo lối “treo đầu dê bán thịt chó”,... Thậm chí, một số bài báo còn cố tình đăng tải thông tin mê tín dị đoan, lẫn lộn hư thực gây hoang mang trong người đọc, tạo hiệu ứng không tốt trong dư luận xã hội. Chưa kể thời gian qua, trong sinh hoạt báo chí còn có hiện tượng một số nhà báo cố tình vi phạm tính chân thực, khách quan để thực hiện hành vi “mưu lợi”, như: lợi dụng danh nghĩa nhà báo tống tiền doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân; viết bài tâng bốc, quảng cáo (có cả quảng cáo không đúng sự thật)…

Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, trong 5 năm (2011 - 2015), đã có: 242 lượt cơ quan báo chí bị xử lý vi phạm, phạt tiền 231 lượt cơ quan báo chí hơn 4,6 tỷ đồng; thu hồi 121 thẻ nhà báo (trong đó có 95 thẻ thu hồi do cơ quan báo chí dừng hoạt động và 26 trường hợp bị thu thẻ do có vi phạm). Năm 2015, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xử lý hành vi hành chính 37 trường hợp cơ quan báo chí vi phạm, phạt tiền 33 lượt cơ quan báo chí hơn 1,5 tỷ đồng, phạt cảnh cáo bốn trường hợp, phạt tiền gần 800 triệu đồng đối với 18 tổ chức, cá nhân vi phạm trong quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng internet (in-tơ-nét). Còn tin từ Hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai kế hoạch công tác năm 2017 của bốn đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông là: Cục Báo chí, Cục Thông tin đối ngoại, Vụ Thông tin cơ sở, Cục Phát thanh truyền hình và Thông tin cơ sở cho biết thêm: trong năm 2016, tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí là gần 1,7 tỷ đồng; 79 trường hợp báo chí bị xử phạt (trong đó sai phạm của báo điện tử là 76, báo in là ba); 27 quyết định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực truyền hình và thông tin điện tử đã được ban hành. Lý do sai phạm chủ yếu của cơ quan báo chí là thông tin sai sự thật (75 trường hợp); đồng thời đã phát hiện ra một số sai phạm của cơ quan báo chí như chưa thực hiện đúng các quy định trong giấy phép hoạt động báo chí, vi phạm về nội dung thông tin, quảng cáo…

Trước các hạn chế về đạo đức nghề nghiệp của một số nhà báo, và từ yêu cầu trực tiếp, cụ thể đối với đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, việc Hội Nhà báo Việt Nam ban hành 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam, là hết sức kịp thời, cần thiết. 10 điều quy định gồm: “1. Trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; vì lợi ích của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân; góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế; 2. Nghiêm chỉnh thực hiện Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật Bản quyền và các quy định của pháp luật. Thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; nội quy, quy chế của cơ quan báo chí nơi công tác; 3. Hành nghề trung thực, khách quan, công tâm, không vụ lợi. Bảo vệ công lý và lẽ phải. Không làm sai lệch, xuyên tạc, che giấu sự thật, gây chia rẽ, kích động xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc; 4. Nêu cao tinh thần nhân văn, tôn trọng quyền con người. Không xâm phạm đời tư, làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân; 5. Chuẩn mực và trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khác; 6. Bảo vệ bí mật quốc gia, bí mật nguồn tin theo quy định của pháp luật; 7. Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; 8. Tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, ngoại ngữ, phấn đấu vì một nền báo chí dân chủ, chuyên nghiệp và hiện đại; 9. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; 10. Những người làm báo Việt Nam cam kết thực hiện những quy định trên, đó là bổn phận và nguyên tắc hành nghề, là lương tâm và trách nhiệm của người làm báo”. Mười điều quy định nêu trên thật sự là hệ thống tiêu chí hoàn chỉnh, tương ứng với ý thức công dân, đạo đức nghề nghiệp người làm báo.

Thiết nghĩ, một nền báo chí phát triển lành mạnh, trung thực, có uy tín, luôn nhận được sự tin cậy của bạn đọc là mục tiêu hướng tới của bất kỳ nền báo chí nào. Và nếu lãnh đạo cơ quan chủ quản báo chí cần nêu cao trách nhiệm trong tổ chức, quản lý để bảo đảm tờ báo, trang tin hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và chịu trách nhiệm trước sai phạm, thì mỗi người làm báo cũng cần xác định rõ trách nhiệm của mình. Hiệu quả của công việc và uy tín của mỗi người làm báo luôn luôn phụ thuộc vào sự kết hợp hài hòa giữa trình độ nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, sự say mê nghề nghiệp và khả năng thâm nhập cuộc sống. Để sự thật luôn được lên tiếng, để đem những điều tốt đẹp đến với bạn đọc,… thì sự tự nhận thức, lòng khát khao hướng đến những giá trị nghề nghiệp đích thực, và cống hiến những gì tốt đẹp nhất mình có được,… luôn phải là nhu cầu tự thân của người làm báo, và vì thế, việc tu dưỡng, rèn luyện theo 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam là hết sức quan trọng. Hy vọng trong thời gian tới, 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam sẽ sớm trở thành yếu tố cấu thành nên phẩm cách của mọi hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.

KHÁNH MINH
Báo Nhân Dân

Xem ngay…

10 điều được Hội Nhà báo Việt Nam công bố gồm:

Hội nhà báo Việt Nam tổ chức họp báo công bố 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam và chương trình hành động của hội nhà báo Việt Nam thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa 12.


Họp báo công bố 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam.

10 điều được Hội Nhà báo Việt Nam công bố gồm:


Điều 1: Trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; vì lợi ích của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân; góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.


Điều 2: Nghiêm chỉnh thực hiện Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật bản quyền và các quy định của pháp luật Thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; nội quy, quy chế của cơ quan báo chí nơi công tác.


Điều 3: Hành nghề trung thực, khách quan, công tâm, không vụ lợi Bảo vệ công lý và lẽ phải. Không làm sai lệch, xuyên tạc, che giấu sự thật, gây chia rẽ, kích động xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc.


Điều 4: Nêu cao tinh thần nhân văn, tôn trọng quyền con người. Không xâm phạm đời tư, làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.


Điều 5: Chuẩn mực và trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khác.


Điều 6: Bảo vệ bí mật quốc gia, bí một nguồn tin theo quy định của pháp luật.


Điều 7: Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.


Điều 8: Tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, ngoại ngữ, phấn đấu vì một nền báo chí dân chủ, chuyên nghiệp và hiện đại.


Điều 9: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.


Điều 10: Những người làm báo Việt Nam cam kết thực hiện những quy định trên, đó là bổn phận và nguyên tắc hành nghề, là lương tâm và trách nhiệm của người làm báo.


Cũng tại buổi họp báo, Hội nhà báo Việt Nam đã thông báo về Chương trình hành động của Hội nhà báo Việt Nam thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 về ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “ tự chuyển hóa” trong nội bộ gồm 8 nội dung.


Những nội dung này nhấn mạnh tới nội dung giữ vững tôn chỉ, mục đích của từng cơ quan báo chí, kiên quyết không để chệch hướng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của báo chí trong tuyên truyền các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phản ánh mọi mặt đời sống xã hội.


PV
Báo đất việt


Xem ngay…

Phát huy vai trò của báo chí trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí


Từ khi thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về chống tham nhũng do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu cách đây 5 năm, và nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ XII đến nay, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã được triển khai trên một cấp độ mới, ráo riết hơn, quyết liệt hơn, và đã đạt được những kết quả tích cực, tạo hiệu ứng tốt, có sức lan toả mạnh, góp phần khôi phục niềm tin trong các tầng lớp nhân dân, tạo động lực mới để đất nước đạt được những thành tựu quan trọng và toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Điều mà dư luận nhận thấy rõ là trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng hiện nay, thực sự không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Kết quả hình ảnh cho hồ quang lợi

Nhà báo Hồ Quang Lợi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam 

Trong cuộc đấu tranh đó, báo chí là lực lượng luôn ở trên tuyến đầu, là vũ khí sắc bén, vào cuộc mạnh mẽ và tỏ rõ hiệu quả to lớn. Nhiều vụ tham nhũng do báo chí phát hiện đã được xem xét, điều tra, xét xử nghiêm minh. Trong quá trình xét xử, báo chí tiếp tục đồng hành để làm rõ sự thật. Báo chí chính là lực lượng tiếp sức cho cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong toàn Đảng, toàn dân.

Thực tiễn mấy năm qua đã khẳng định, báo chí có vai trò rất quan trọng trong PCTNLP, thể hiện rõ ở các mặt như sau:

- Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về PCTNLP

  • Cung cấp thông tin từ những phát hiện của cán bộ, nhân dân và những phát hiện của chính báo chí để các cơ quan chức năng tiếp nhận, xử lí.
  • Theo dõi, phản ánh và giám sát quá trình xử lí các vụ việc tham nhũng, lãng phí đã được phát hiện.
  • Biểu dương, cổ vũ các tấm gương, nhân tố mới trong đấu tranh PCTNLP; nhân rộng những cách làm hay, kinh nghiệm tốt, bảo vệ người tố cáo tham nhũng, lãng phí.
  • Phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, trong đó có luận điệu cho rằng chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là để thanh trừng nội bộ. 
  • Tạo diễn đàn tranh luận công khai, phát hiện những bất cập, yếu kém trong công tác đấu tranh PCTNLP để cơ quan Đảng, Nhà nước có cơ sở xem xét, điều chỉnh chủ trương và chính sách về PCTNLP.

Hàng loạt vụ án tham nhũng lớn, gọi là “đại án”, đã được báo chí phát hiện, bám sát diễn biến để đưa tin kịp thời. Gần đây nhiều vụ tham nhũng lớn tại một số ngân hàng đã được đưa ra xét xử. Hầu hết các vụ tiêu cực lớn, dù thủ đoạn, hành vi tham nhũng có tinh vi đến đâu, cuối cùng cũng được đưa ra ánh sáng, nhờ sự phát hiện, tố cáo của nhân dân, thường trước hết tố cáo với các cơ quan báo chí, và sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Hội Nhà báo Việt nam là tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiêp của giới báo chí cả nước. Hội có chức năng tập hợp, đoàn kết gần 24 nghìn hội viên đang làm việc tại hơn 900 cơ quan báo chí. Đảng đoàn, Ban Thường vụ Hội nhà báo Việt Nam đã ban hành Chương trình hành động thực hiện NQTW4 khoá XII về chống suy thoái đạo đức, chính trị, lối sống, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa, trong đó, chú trọng cả việc chống suy thoái,chống tự diễn biến, tự chuyể hoá trong nọi bộ giới báo chí.  Thông qua 63 HNB các tỉnh, thành phố, 19 Liên chi hội và gần 200 chi hội trực thuộc ở Trung ương, Hội nhà báo Việt Nam khích lệ cổ vũ các hội viên – nhà báo tham gia đấu tranh PCTNLP. Hội nhà báo Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí viết về lĩnh vực PCTNLP, bảo vệ hội viên - nhà báo tham gia đấu tranh PCTNLP, động viên khen thưởng hội viên có thành tích, phát hiện xử lí những hội viên - nhà báo vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực này.

Vừa qua, thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng bí thư, Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức rất thành công Giải báo chí toàn quốc lần thứ nhất về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Qua đó, nhiều nhà báo có tác phẩm báo chí xuất sắc đã được tôn vinh. Đặc biệt, phẩm chất dấn thân của các nhà báo, quyết làm rõ sự thật, bảo vệ công lý, lẽ phải, vì lợi ích của cộng đồng, đất nước và dân tộc cũng đã được thể hiện rõ trong nhiều tác phẩm báo chí được trao Giải báo chí quốc gia lần thứ 12 năm 2017 tối 21-6 vừa qua. Bằng tinh thần quả cảm và cống hiến, bằng lao động sáng tạo, nhiều nhà báo đã có những tác phẩm báo chí có sức lay động, góp phần nhân lên ngọn lửa niềm tin trong xã hội về cuộc đấu tranh vô cùng cam go, phức tạp này.

Bên cạnh những kết quả đạt được, báo chí vẫn còn những hạn chế, thiếu sót trong PCTNLP như:

- Có lúc chưa phản ánh được một cách đầy đủ, kịp thời những hiện tượng, vụ việc tham nhũng tiêu cực, lãng phí mà nhân dân đã phát hiện. Một số vụ việc không được theo đuổi đến cùng.

- Một số cơ quan báo chí còn thông tin thiếu chính xác, thiếu khách quan, làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức… Có những nhà báo lợi dụng nghề nghiệp, tuy mang danh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực nhưng lại theo đuổi mục đích không trong sáng. Đó chính là  hiện tượng “tiêu cực đi chống tiêu cực”, tác động xấu tới hình ảnh của người làm báo chân chính.

Nghề báo là một nghề đặc biệt. Báo chí có sức mạnh thật sự, có người gọi đó là “quyền lực thứ tư”, nhưng quyền lực đó là do nhân dân, xã hội trao cho báo chí. Chỉ bằng việc đóng góp tích cực cho xã hội, chiến đấu vì công lý và lẽ phải, vì những giá trị tốt đẹp, báo chí mới thực sự có sức mạnh. Đạo đức nghề nghiệp là điều cốt lõi, có tính sống còn với nghề báo. Để nêu cao đạo đức nghề nghiệp, ngăn chặn những hành vi sai trái, Hội Nhà báo Việt Nam đã ban hành 10 điều quy định về Đạo đức nghề nghiệp bắt đầu có hiệu lực từ 1-1-2017. Đến nay, đã thành lập gần 300 Hội đồng xử lý vi phạm đạo đức nghề nghiệp từ trung ương tới các các cấp hội địa phương để ngăn chặn, xử lý những việc làm sai trái của một số nhà báo. Chúng ta cần cổ vũ, khen thưởng kịp thời những nhà báo có thành tích xuất sắc trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, đồng thời cũng phải xử lý nghiêm những nhà báo vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp.   

Có một điều lâu nay chúng ta vẫn nói là tình trạng “Sáng đăng, trưa gặp, chiều gỡ” trên báo điện tử. Trong thời gian vừa qua, Hội Nhà báo Việt Nam đã áp dụng phần mềm theo dõi việc đăng và gỡ tin bài trên báo điện tử. Phần mềm này đã hoạt động gần 1 năm và rất có hiệu quả. Trước đây, khi chưa thực hiện thì hàng tháng có hàng trăm bài đăng lên rồi gỡ xuống vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có nhiều trường hợp chúng ta “ngửi” thấy sự vụ lợi, sự cám dỗ của lợi ích vật chất. Vấn đề này đã được khắc phục đáng kể, hiện nay một tuần chỉ còn hai, ba bài gỡ. Ai đăng lên gỡ xuống phải có giải trình thỏa đáng. Cách làm này đã góp phần chấn chỉnh lại kỷ cương trong hoạt động báo chí nói chung và đặc biệt trong báo điện tử.

Cũng cần nêu rõ một số khó khăn, trở ngại của báo chí trong PCTNLP.

Đó là việc cung cấp thông tin còn nhiều bất cập. Luật Tố cáo được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 11-11-2011 đã nêu rõ, các cơ quan báo chí, phóng viên có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin liên quan đến tham nhũng; và các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm phải cung cấp thông tin cho báo chí, trong trường hợp không thể cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản và phải nêu rõ lý do. Nhiều thông tin được coi là “mật” nên báo chí không có điều kiện tiếp cận. Có trường hợp, nhà báo được cung cấp thông tin và người cung cấp thông tin cho nhà báo không được đảm bảo an toàn. Đó là việc còn thiếu một cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan để cùng báo chí giải quyết các vụ việc.

Và càng phải thấy rõ, nhà báo tham gia vào cuộc đấu tranh này luôn phải đối mặt với thử thách, hiểm nguy. Luật Báo chí (sửa đổi năm 2016) đã quy định rõ những nội dung bảo vệ các nhà báo hành nghề đúng pháp luật. Nhưng thực tế, ở một số địa phương, vẫn còn không ít những hành vi xúc phạm, ngăn cản, thu giữ tài liệu, phá hủy máy móc, thậm chí đe dọa tính mạng các nhà báo và người thân của họ. Ai bảo vệ nhà báo? Trước hết, pháp luật phải bảo vệ họ, dư luận xã hội bảo vệ họ, rồi đồng nghiệp là ban biên tập, những anh em trong tòa soạn và giới báo chí bảo vệ họ…

Để phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm, hiệu quả của báo chí trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xin đề xuất một số  biện pháp thiết thực như sau:

-Thứ nhất, các cơ quan bảo vệ pháp luật cần thống nhất cơ chế cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí, thực hiện đúng quy chế người phát ngôn, tạo điều kiện cho báo chí tham gia PCTNLP một cách thuận lợi và an toàn.

-Thứ hai, có cơ chế để báo chí theo dõi và đồng hành trong quá trình xử lí các vụ việc tham nhũng, tiêu cực.

-Thứ ba, có các biện pháp bảo vệ an toàn cho nhà báo tham gia cuộc đấu tranh PCTNLP. Tạo môi trường pháp lý, môi tường xã hội lành mạnh để bảo vệ các nhà báo.

- Thứ tư, cần động viên, khen thưởng kịp thời các cơ quan báo chí và nhà báo có thành tích xuất sắc trong phòng chống tham nhũng

Đối với các cơ quan báo chí, cần chú trọng hơn nữa công tác rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của người làm báo. Thủ đoạn của kẻ tham nhũng hết sức tinh vi, đòi hỏi báo chí vào cuộc vừa với dũng khí mạnh mẽ, đồng thời ngày càng phải chuyên nghiệp hơn. Các nhà báo phải rèn luyện một cách toàn diện, vừa phải có tinh thần dấn thân, vừa phải có kỹ năng tác nghiệp cao để khi đối mặt với thử thách, khó khăn, hiểm nguy quyết không lùi bước. Cùng với đó, nhà báo phải trang bị cho mình những kiến thức sâu rộng về nghề và khả năng tác nghiệp trong điều kiện khẩn cấp, khó khăn. Các nhà báo phải hết sức tránh những sơ suất trong hoạt động nghề nghiệp. Đôi khi chỉ cần một sai sót khi tiếp cận sự thật, trong giao tiếp, hay khi thể hiện trên mặt báo với những câu chữ thiếu thận trọng, những đánh giá, phân tích không thỏa đáng…sẽ không chỉ hủy hoại giá trị của tác phẩm báo chí mà có khi còn gây những khó khăn và tác động rất xấu tới cuộc sống và con đường làm nghề của nhà báo.

Ở đâu vai trò của người đứng đầu cũng rất quan trọng, đặc biệt với một cơ quan báo chí, vai trò đó càng phải thể hiện rõ. Trong tòa soạn, tổng biên tập như một ngọn cờ. Nếu anh là một người làm báo chính trực, có dũng khí, người làm báo tử tế thì sẽ xây dựng được trong tòa soạn một không khí làm việc chuẩn mực. Và sẽ có người noi gương anh để hành động. Đôi khi thông qua tổng biên tập mà phóng viên có cảm hứng, dũng khí, niềm say mê nghề nghiệp, quên đi mệt nhọc, gian khổ, khó khăn. Nên cách điều hành của tổng biên tập sẽ quyết định tạo nên một môi trường báo chí hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực. Ở một cơ quan báo chí có một tổng biên tập sáng về đạo đức, giỏi về nghiệp vụ thì chắc chắn ở đó có môi trường làm việc lành mạnh và đội ngũ biên tập viên, phóng viên làm việcđúng với tinh thần đạo đức nghề nghiệp. Ở đâu đó có chụp giật, lợi ích nhóm, có chuyện không trong sáng trong đội ngũ lãnh đạo sẽ gây chán nản, làm thui chột những ý tưởng sáng tạo, tinh thần cống hiến của người làm báo và không thể có tác phẩm báo chí xuất sắc. Trong môi trường báo chí mà người lãnh đạo không trong sáng sẽ là mảnh đất cho cách làm báo tiêu cực mà gần đây chúng ta đã cảnh báo.

Chống tham nhũng đang thử thách bản lĩnh cầm quyền của Đảng ta. Tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh PCTNLP là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của báo chí. Những vụ tham nhũng lớn mà chúng ta xử lý gần đây đã gây được hiệu ứng tích cực trong đời sống kinh tế-xã hội, nhưng cuộc đấu tranh này đang đòi hỏi cả hệ thống chính trị, trong đó có báo chí phải tiếp tục vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa. Đồng thời báo chí cũng rất cần sự hỗ trợ, giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa của hệ thống bảo vệ pháp luật, của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, của các tầng lớp nhân dân. Sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân trong trận đánh lớn không khoan nhượng này vì sự tồn vong của chế độ, vì tương lai của đất nước, các nhà báo, các cơ quan báo chí cần tiếp tục nêu cao tinh thần chiến đấu, bản lĩnh chính trị, năng lực tác nghiệp và đạo đức nghề báo./.

Nhà báo Hồ Quang Lợi- Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam 


Xem ngay…